Sách Hay Nên Đọc

[ Lý luận văn học ] Nhớ rừng – Thế Lữ – Khát khao về một cái tôi đòi được giải phóng

Tố Hữu đã từng cho rằng: “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”. Ở cái buổi đầu chuyển giao của nền văn học Trung Đại, Thế Lữ được coi là người đem lại chiến thắng giòn giã cho thơ Mới. Chắp bút nên những vần thơ thể hiện khát vọng rực lửa trong mình, ông gửi mối bất hòa với thực tại vào “Nhớ rừng”. Mượn lời con hổ trong vườn bách thú, tác phẩm để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm về thời đại bấy giờ.

LĐ 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm
LĐ 2: Khái quát và phân tích bức tranh tứ bình
Lý luận
Khẳng định vấn đề, vai trò tiếp nhận người đọc

Với giọng điệu riêng của mình, “Nhớ rừng” đã có chỗ đứng vững chắc trong nền thơ ca văn học Việt Nam. Trong “Cây đàn muôn điệu”, Thế Lữ đã nêu lên quan niệm về thi sĩ:

“Tôi chỉ là một khách si tình

Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể

Mượn cây bút nàng Li Tao tôi vẽ

Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca”

Ông phủ định lý tính và đề cao cảm xúc tự nhiên trong thơ ca. Vì vậy, cái “tôi” trong thơ ông ngày càng rõ nét, hăng hái dần, song cuộc sống ông vẽ ra chỉ là một sự hóa thân tưởng tượng.

Hiện thực xã hội – Bi kịch sống mòn của thời đại.
Bài thơ lấy cảm hứng từ hiện thực những năm 1936, khi mà bi kịch của con người trở thành bi kịch của cả thời đại, “bi kịch sống mòn”. Cuộc sống lúc này chật chội, tù túng, người dân Việt Nam rơi vào tình cảnh mất nước, cũng được ông ghi lại:

“Cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy

Thú sáng láng mơ hồ trong ảo mộng.”

Ký thác vào hình tượng con hổ bị cầm tù trong vườn bách thú, tác phẩm đã nói hộ “giấc mộng lớn”, cái nỗi niềm của cả thời đại: Mối bất hòa với thực tại. Họ sống trên quê hương mà luôn thấy thiếu quê hương, sống trong thực tại mà chỉ muốn thoát ly khỏi thực tại. Vì vậy, tâm trạng của con hổ là tâm trạng của những người trí thức mất nước, khát khao giành độc lập tự do, giải phóng. Đối với chúa sơn lâm, rừng là tất cả. Nhớ rừng nghĩa là nhớ tiếc tự do, nhớ cái cao cả, nhớ thời oanh liệt. Đánh mất rừng là đánh mất mình, khao khát rừng là khao khát được là mình. Qua đây, ta thấy được khát vọng của một cái tôi đòi được giải phóng.

Trong “Nhớ rừng”, nhà thơ đã sử dụng thành công bút pháp tạo hình để khắc họa hình tượng con hổ một cách phi thường. Chúa sơn lâm đặt ở trung tâm bức tranh, được miêu tả qua hành động, dáng vẻ, tâm trạng. Vạn vật đổi thay theo vị chúa tể rừng già. Vì vậy, thành công của “nhớ rừng” phải nói tới bộ tranh tứ bình mà nhà phê bình Chu Văn Sơn, người đã có nhiều lặn lội trong nghề viết gọi là “đoạn tuyệt bút nhất” của “Nhớ rừng”.

Mười dòng thơ với sự kỳ diệu của màu sắc hội họa đã tạo thành bốn bức tranh tự họa của con hổ, khép lại thời quá khứ đầy oanh liệt, vàng son. Bốn bức tranh là bốn hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận. Tất cả chỉ là những ảo ảnh khôn nguôi với hình ảnh của đêm vàng, của suối, của trăng, và cả là khoảnh khắc chiến sự. Bốn cặp tứ bình với bốn chữ “nào đâu”, “đâu” của câu hỏi tu từ. Hỏi thì ít mà ngậm ngùi, đắng cay thì nhiều. Hai chữ ấy như giằng xuống với nỗi đau ngậm ngùi, không thể giải tỏa của con hổ.

Bức tranh đầu tiên
Đầu tiên, bức tranh mở ra với một khung cảnh vô cùng lãng mạn:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan.”

Hình ảnh “đêm vàng” bên bờ suối đầy chất tạo hình với sắc màu cổ điển: vàng và trắng. Màu vàng của ánh trăng, màu trắng của dòng suối chan hòa tạo nên chất thú vị của đêm khuya nơi rừng vắng. Không gian được giãn nở, trở nên lãng mạn khi tác giả họa vào bức tranh âm thanh róc rách của tiếng suối – một thanh âm nhỏ từ xa vọng lại. Trước không gian im ắng, cảnh vật ấm áp nên thơ, vẻ đẹp phi thường của vị mãnh chúa trở nên đậm nét. Hổ như một nhà thơ, một thi sĩ đang hòa mình vào với cảnh vật thiên nhiên rộng lớn.

Sử dụng triệt để bút pháp Tương giao, thi sĩ miêu tả hổ đang “uống ánh trăng tan”. Mọi đường thơ, nét thơ đều chuyển động rất khẽ, rất êm: Trăng như đang sóng sánh, còn hổ lại như đang ngụp lặn trong sự lãng mạn mơ hồ. Hình ảnh ấy không chỉ tái hiện một đêm trăng đẹp đến nên thơ, mà còn gợi về những tháng năm vàng bạc tự do trong quá khứ. Đó là đoạn đời huy hoàng, mang ý nghĩa chói lọi nhất của con hổ mà bất cứ người nào mang một niềm khát khao sống đều “ngậm” một nỗi hận sầu thất thế. Câu thơ tiềm ẩn nỗi than đầy nhân bản ấy của con hổ.

Bức tranh cuối cùng
Nếu ở bức tranh đầu tiên, con hổ như một bậc thi nhân đang thưởng trăng, say đắm trước cái lãng mạn của thiên nhiên thơ mộng, thì đến đây, vị chúa tể rừng già trở nên khác hẳn. Không còn là lời than thở với dáng điệu đầy hào hoa nghệ sĩ, mà là lời chất vấn quá khứ đầy dữ dội, oai linh. Hổ xuất hiện trong dáng điệu đầy kiêu kỳ của một bậc bạo chúa.

Đây là bức tranh mạnh mẽ, oanh liệt nhất của con hổ với hình ảnh “máu sau rừng” gợi cuộc chiến tranh tàn bạo. Ở hai dòng thơ này, Thế Lữ sử dụng triệt để nghệ thuật đảo ngữ. Ba chữ “lênh láng máu” như vẽ ra một bức tranh kiếm hiệp quyền thế. Đó là máu của con thú rừng xấu số nào đó ư? Không phải. Đó là máu của mặt trời. Ánh tà dương lúc mặt trời hấp hối là sắc máu lênh láng đỏ. Cho nên, màu máu lênh láng trở thành màu của thời gian, kết hợp với không gian rừng tạo nên cái bí hiểm của cuộc tranh chấp.

Nhãn tự của cả đoạn thơ nằm ở cụm từ “đợi chết mảnh mặt trời” (Nghĩa là giết chết mặt trời). Chữ “chết” đã biến mặt trời thành một sinh thể sống, tạo sự tương quan với con hổ. Không phải cách chiến đấu bị động đợi mảnh mặt trời chết, chỉ cần đảo một chữ “chết” lên đầu, con hổ đã hoàn toàn hạ bệ thế lực mạnh nhất của thiên nhiên. Tới đây, gấu, báo, thậm chí con người chẳng còn là kỳ phùng địch thủ của nó. Đó là vầng thái dương. Chỉ một chữ “chết”, vậy mà nhà thơ đã đem lại cho câu thơ dáng vẻ tân kỳ. Sau này, Xuân Diệu sẽ nói “Mặt trời đi ngủ sớm” và bị coi là Tây quá. Để diễn tả màu đỏ rực, người xưa nói:” Áo choàng đỏ tựa ráng pha” (Chinh phụ ngâm). Còn Thế Lữ lại bị ảnh hưởng bởi câu thơ của Bondelaire:

“Mặt nhật đắm trong màu hồng đông cứng

Trời chiều buồn rực rỡ tựa triều môn.”

Nét tân kỳ và tạo hình trong câu thơ Thế Lữ làm nên sự oai linh của con hổ cũng nằm ở ba chữ “mảnh mặt trời”. Người ta thường hay nói mảnh sành, mảnh giấy, thậm chí là mảnh trăng. Bởi trăng “khi tròn, khi khuyết, khi xẻ làm đôi.” Nhưng đặt một từ “mảnh” trong “mảnh mặt trời”, thi sĩ gợi ra cái nhìn tàn bạo của con hổ, như muốn đâm nát cả vũ trụ. Đến đây, sự phi thường, hùng vĩ của con hổ đã lên đến tột bậc. Nhưng càng hào hùng bao nhiêu, niềm uất hận lại càng cay đắng bấy nhiêu. Đó cũng là tâm trạng bị tù túng, chật hẹp nhớ về thời vàng son của đất nước bởi những người nông dân lúc bấy giờ.

Nghệ thuật của Nhớ rừng
Nếu không có một thiên tài như Thế Lữ, ta không thể có “nhớ rừng”, nhưng nếu không có một cuộc sống cơ cực, tăm tối, mù mịt hướng phương cùng những cảm xúc dồn nén sâu thẳm đáy lòng, ta cũng không thể có những trang về cuộc sống tù túng của một chú hổ mang đầy chất nhân bản sâu xa. Như Bielinxki nhận định: “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó là nghệ thuật”.

Với bút pháp tráng ca hào hùng cùng giọng điệu mạnh mẽ, khoa trương, mang đặc thù của chủ nghĩa lãng mạn, cùng sự cách tân ngôn ngữ đã tạo nên cái phù hợp với con hổ. Qua đó, ta thấy vị chúa tể rừng già xứng đáng với vẻ phi thường, hùng vĩ. Tất cả nhờ tài năng và tâm huyết của nhà thơ khi tô điểm những sắc màu, hình khối, đường nét cùng cách bố trí ngôn từ khéo léo. Quả thật “người có công dựng nên nền thơ Mới ở xứ này không ai khác ngoài Thế Lữ” (Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam).

Nhớ rừng – Sự chuyển giao hai thời kỳ lịch sử.
Có lẽ, con hổ trong “Nhớ rừng” đã làm nên Thế Lữ hay Thế Lữ mượn gương mặt của con hổ để nói hiện thực thời đại mình. Tâm trạng của con hổ không phải bi kịch của riêng thơ Mới mà ở mọi thời: Phải sống trong cảnh mất tự do, mất nước. Đó là nỗi sầu nhân thế. Nó tạo nên vẻ bi tráng của thời đại. Độc giả đọc xong bỗng cảm thấy chạnh lòng, đồng cảm, xót xa, đau đớn thay cho những mảnh đời bất hạnh ấy. Không chỉ vậy, tác phẩm còn dấy lên trong ta một nỗi căm thù với xã hội thối nát đã không cho con người được hưởng khát vọng chính đáng nhất. Với “Nhớ rừng”, Thế Lữ đã vẽ ra chân trời mới cho thơ ca. Chính vì thế, nhà thơ Vũ Đình Liên cũng khẳng định: Nhớ rừng có sức mạnh như một tuyên ngôn để bảo vệ cho thơ Mới.

Tài năng, tâm huyết Thế Lữ tạo nên nét độc đáo cho tác phẩm
Với ngòi bút nghệ thuật độc đáo, Thế Lữ đã mang tới cho kho tàng văn học Việt Nam một thi phẩm sâu sắc, vừa mang giá trị hiện thực, vừa chứa những xúc cảm của nhân dân cả một thời. Thế đấy, thơ ca cũng như văn chương và các loại hình nghệ thuật khác, nếu không bám rễ vào cuộc đời, nếu không hút nguồn nhựa sống dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống, thì nó mãi là một cây non èo uột, không mang trên mình những cành cây săn chắc, những phiến đá mơn mởn dưới ánh mặt trời. “Nhớ rừng” vì thế trở nên vững chắc, có chỗ đứng không chỉ riêng với thơ Mới, mà cả kho tàng văn học Việt Nam ta.

Vấn đề tiếp nhận của người đọc 
Nhà thơ mất cả một đời để sáng tác nên nhiều thi phẩm giá trị, mang nhiều tầng nghĩa sâu xa. Vì vậy, độc giả khi đọc thơ, hãy tự biến mình thành những nhà giải mã. Để nhìn nhận tác phẩm dưới mọi góc độ khác nhau. Để khám phá ra sự đa nghĩa bị ẩn giấu. Để tiếp nhận được thông điệp mà nhà văn truyền tải. Có như vậy, tác phẩm nghệ thuật mới trở nên có sức sống, sáng lên muôn đời. Và đặc biệt, để không lãng phí “cả một đời nhà văn”.

 

Back to top button