Phân tích tác phẩm Ba Cống Hiến Vĩ Đại Của Các Mác- Ngữ văn 11

Phân tích tác phẩm Ba Cống Hiến Vĩ Đại Của Các Mác- Ngữ văn 11

Hướng dẫn

BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Phri-đrích Ăng-ghen (1820 -1895) là nhà triết học ngưòi Đức, bạn thân thiết của Các Mác và là nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của phong trào công nhân thế giới và Quốc tế cộng sản. Di sản lí luận của ông là một phần quan trọng trong lí luận của chủ nghĩa Mác.

Các Mác (1818 – 1883) là nhà triết học và lí luận chính trị vĩ đại người Đức, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học của Các Mác mở đường cho nhân loại bước vào kỉ nguyên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ông đã kế thừa và sáng tạo một cách xuất sắc những đỉnh cao của tư tưởng thế kỉ XIX, đó là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Ông sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xây dựng học thuyết kinh tế mác xít và chủ nghĩa xã hội khoa học,… Học thuyết của ông là vũ khí lí luận và hành động của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị tư sản.

Các Mác và Ph. Ăng-ghen đều không để lại những công trình chuyên khảo trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, song tư tưởng của hai ông về vai trò, chức năng của văn học nghệ thuật xuất hiện khá nhiều trong các công trình mang tính triết học, kinh tế học và đều được soi sáng bằng chủ nghĩa xã hội khoa học. Các bài viết hoặc các kiến giải của hai ông về các tác giả tác phẩm văn chương được tập hợp lại và in thành sách với tiêu đề Mác – Ăng-ghen bàn về văn học nghệ thuật.

Văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác, trong đó ông đã đánh giá cao cống hiến to lớn của Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất lớn không bù đắp được này. Bài chính luận được viết trong hoàn cảnh đặc thù gắn với một sự kiện đặc biệt và gắn với những con người có thật chứ không phải là những hĩnh tượng hư cấu. Tất cả những điều đó tạo ra tính chất đặc biệt của văn bản.

Thế kỉ XIX là thế kỉ của sắt thép, là thế kỉ mà ở đó chủ nghĩa tư bản xác lập, ổn định trật tự thống trị và điều hành xã hội bằng vị thần tiền toàn năng (liên hệ với tác phẩm Lão Gô-ri-ô và Những người khốn khổ). Đây cũng là thế kỉ của áp bức bóc lột nặng nề, thế kỉ của đau thương, ở đó người lao động chịu nhiều sự thống trị bất công, vô lí ; ở đó khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái đã không còn ý nghĩa cao cả nữa. Tại thời điểm đó, sự thức tỉnh ý thức giai cấp cho giai cấp vô sản là hết sức cần thiết, việc bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động là yêu cầu cấp bách của thời đại. Trong trận tuyến đấu tranh quyết liệt ấy, các hoạt động lí luận và thực tiễn của Các Mác có tầm quan trọng đặc biệt. Nói cách khác, hoạt động của Mác và Ăng-ghen gắn liền với thời đại đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, thời đại thức tỉnh giá trị của người lao động trên phạm vi toàn thế giới vì một tương lai tươi sáng hơn.

3.Tri thức về thể loại

Văn bản này thuộc thể loại văn chính luận, do đó cách khai thác các giá trị thẩm mĩ cũng có khác với các thể loại văn học hư cấu khác. Bài điếu văn không chỉ bày tỏ sự thương tiếc mà còn ca ngợi công lao to lớn của Các Mác. Có thể hiểu đây là đánh giá của một vĩ nhân về một vĩ nhân, ở đó Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh tính chất bất tử của những cống hiến của Các Mác đối với nhân loại. Bài điếu văn khẳng định khía cạnh quan trọng của cuộc đời con người là khía cạnh sống thể hiện sự đóng góp thúc đẩy sự phát triển của nhân loại chứ không dừng ở khía cạnh mất mát đau thương. Điều đó thể hiện qua cách lập luận được tổ chức theo hình thức so sánh bằng kết cấu tầng bậc để từ đó tạo ra sự trùng điệp nhằm nhấn mạnh tính chất bất tử eủa những đóng góp quan trọng mà Các Mác đã cống hiến.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Đặc điểm về nội dung

-Nhân vật được nói tới trong đoạn trích là Các Mác, một nhân vật lịch sử có thật. Các Mác được đặt trong quan hệ so sánh vói Đác-uyn (1809 – 1882), nhà tự nhiên học và sinh vật học ngưòi Anh, tác giả của cuốn sách nổi tiếng về nguồn gốc của các loài trên con đường chọn lọc tự nhiên xuất bản năm 1859 và là người sáng lập học thuyết Đác-uyn về tiến hoá.

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Tnú trong Rừng Xà Nu của tác giả Nguyễn Trung Thành

-Ăng-ghen, người bạn, ngưòi đồng chí của Các Mác, đồng thời cũng là người cộng sản, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng. Ăng-ghen đánh giá cao ba cống hiến vĩ đại của Các Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất to lớn không sao bù đắp được này.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

Văn bản được viết sau thời điểm Các Mác qua đời và được đọc trước mộ Các Mác. Đây là một thời điểm quan trọng trong cuộc đời của mỗi một con người: thời điểm kết thúc sự hiện diện của con ngưòi đó trong thế giới của những người sống. Đối với các vĩ nhân, đây cũng là thời điểm tổng kết cuộc đời thông qua sự nhìn nhận, đánh giá của bạn bè thân hữu, của đồng chí, đồng đội. Giá trị của vĩ nhân hiện ra trong sự đánh giá tổng kết ấy. Cho nên bản thân sự đánh giá cũng cho thấy tầm vóc của ngưòi được đánh giá, đồng thời sự đánh giá càng khách quan và chính xác bao nhiêu thì giá trị của vĩ nhân càng lớn bấy nhiêu. Đây là đánh giá của một vĩ nhân đối với một vĩ nhân và vĩ nhân – ngưòi đánh giá – cũng mang tầm vóc lịch sử thời đại chứ không phải là một người bình thường, để đánh giá vĩ nhân – con người mà lịch sử đã sinh ra.

a.Kết cấu đoạn trích

Văn bản (có 7 đoạn và một câu kết luận) được chia làm ba phần: phần một gồm đoạn 1, 2; phần hai gồm đoạn 3, 4, 5, 6 (là phần trọng tâm của bài điếu văn) ; phần ba (phần kết thúc) gồm đoạn 7 và câu cuối cùng.

-Phần một, cho thấy không gian, thời gian liên quan tới sự ra đi của Các Mác. Trước hết, đó là thời gian cụ thể: có ngày có giờ (Chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút), có không gian (trong phòng ở, trên chiếc ghế bành). Thời gian và không gian ở đây là bình thường. Tiếp đó là cách giới thiệu Các Mác: “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Trong cách giới thiệu đó, Các Mác hiện ra là vĩ nhân của thế kỉ (thế kỉ XIX) mà tính chất vĩ nhân thể hiện khá rõ qua tính chất “nhà tư tưởng hiện đại”. Hàm nghĩa của từ “hiện đại” ở đây, tức là có thể hiểu tính chất cách mạng, tính chất mới mẻ và sáng tạo của tư tưởng Các Mác. “Hiện đại” còn thể hiện sự vượt trội về tính chất, phẩm chất so với thời đại, đồng thời cho thấy sự tiếc thương của những người đồng chí, đồng đội.

-Phần hai, là trọng tâm của bài, đề cập đến những cống hiến to lớn của Các Mác đối với nhân loại.

-Phần ba, đề cập tới các giá trị tổng quát của những cống hiến của Các Mác. Những cống hiến đó đều hướng vào mục tiêu chung là phục vụ nhân loại.

b.Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

-Cống hiến đầu tiên của Các Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng (bao gồm tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế,…) quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội (bao gồm các hình thức, thể chế nhà nước, tôn giáo, văn học nghệ thuật,…).

-Cống hiến thứ hai là “tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Đó là quy luật về giá trị thặng dư.

-Cống hiến thứ ba, qua cách lập luận của Ph. Ăng-ghen, là cống hiến quan trọng hơn cả. Đó là sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng – khoa học thành hành động cách mạng, bởi vì “khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng” và “trước hết Mác là một nhà cách mạng”, ở Mác “đấu tranh là hành động tự nhiên”.

Những cống hiến này được sắp xếp theo một trật tự tăng tiến ; cống hiến sau lớn hơn cống hiến trước, mặc dù chỉ có được một trong các cống hiến ấy cũng đã trở thành vĩ nhân rồi. Để làm nổi bật cống hiến của Mác, Ăng-ghen đã so sánh các cống hiến ấy với cống hiến của Đác-uyn, của các nhà khoa học khác cùng thời đại. Thế kỉ XIX, ở phương Tây, là thế kỉ của nhiều phát minh lớn, quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các cống hiến của Mác mang tầm vóc khái quát thời đại, mở đường cho thời đại. Trong ý nghĩa đó, Mác nổi bật lên hàng đầu như là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”.

Xem thêm:  Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến

Mác “tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản và các thiết chế nhà nước do nó dựng lên”, nói cách khác là Mác chống lại bất công, chống lại cường quyền và bạo quyền. Mác “tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đem đến cho giai cấp ấy ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để tự giải phóng” nói cách khác là Mác bênh vực cho những người lao động, những người cùng khổ. Mác đem đến cho họ niềm tin vào hạnh phúc trong một thế giới mới, thế giới mà ở đó người lao động thực sự là chủ nhân của xã hội. Những cống hiến của Mác là tài sản chung của nhân loại. Những cống hiến ấy không chỉ có giá trị lí luận mà nó còn có giá trị hành động, góp phần mở đường cho nhân loại tiến lên. Vì hoạt động của Mác không phải để phục vụ cho quyền lợi của cá nhân mà cho quyền lợi của toàn dân, do đó, “ông có thể có nhiều kẻ đối địch, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng nào cả”.

b.Ngôn ngữ nghệ thuật

Khi khai thác nghệ thuật lập luận của bài điếu văn, cần đặc biệt chú ý đến nghệ thuật so sánh theo hình thức tăng tiến. Cụ thể:

Đoạn mở đầu chỉ có hai câu: câu thứ nhất thông báo thời điểm Các Mác – một vĩ nhân – qua đời. Câu thứ hai cho biết sự ra đi thanh thản của bậc vĩ nhân ấy với một niềm tiếc nuối của những người thân. “Để Mác ở lại một mình vẻn vẹn chỉ có hai phút, thế mà khi trở vào phòng, chúng tôi đã thấy ông ngủ thiếp đi thanh thản trên chiếc ghế bành – nhưng là giấc ngủ nghìn thu”. Câu văn ở đây dường như để giãi bày tâm trạng, như để giải thích nỗi niềm thương tiếc, như để phân bua với những người đồng chí, đồng đội khác. Đoạn văn mở đầu này tạo ra không khí để thể hiện một tình cảm tiếc thương vô hạn đối vói sự ra đi của Các Mác, “đồng thòi qua đó cũng cho thấy sự kính trọng của những người bạn, những người dồng chí của Các Mác.

Đoạn tiếp theo cũng chỉ có hai câu văn và cũng có chung giọng điệu tiếc thương và kính trọng ấy. Trước hết, tầm vóc nhân loại của Mác cũng được khẳng định: “con người đó ra đi là một tổn thất không sao lường hết được đối vói giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ, đối với khoa học lịch sử”. Ở đây Các Mác hiện ra dưới hai hình thức: một là nhà cách mạng của giai cấp vô sản ; hai là nhà khoa học lịch sử. Kết cấu trùng điệp được sử dụng ở đây để nhằm nhấn mạnh tính chất vĩ nhân của Mác:

Con người đó – ra đi = (là) một tổn thất (không sao lường hết được)

-> đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ.

-> đối với khoa học lịch sử.

Từ đó, cái chết ấy tạo ra một “nỗi trống vắng” đối với nhân loại, đối với khoa học. Sự kính trọng và thương tiếc được nhân lên nhiều lần. Cái chết của Các Mác trở thành sự mất mát lớn của nhân loại. Đây cũng là một hiệu quả nghệ thuật mà kết cấu trùng điệp tạo ra.

Mô hình chung cho toàn bài là: Thông báo về cái chết – đánh giá sự nghiệp của người quá cố – bày tỏ sự tiếc thương người đã khuất. Hai đoạn 1, 2 đã được phân tích cho thấy nét đặc biệt về nghệ thuật kết cấu trùng điệp. Các đoạn 3, 4, 5, 6 tập trung đánh giá sự nghiệp. Do đó, biện pháp lập luận theo lối kết cấu tầng bậc kết họp so sánh thể hiện qua mô hình:

Giống như:

-Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ.

-Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người.

Ở đây, Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại, với những thành tựu khoa học nổi tiếng của thời đại đó. Đây không phải là sự so sánh vụn vặt, tầm thường mà là sự so sánh đặc biệt: so sánh với những tinh hoa của cùng thời đại, so sánh vói những phát minh và cống hiến quan trọng mà không phải ai cũng làm được và không phải đã có từ thời đại trước. Những con người cũng như những thành quả khoa học được đưa ra so sánh là những con người, những thành tựu tạo nên tầm vóc con người, tạo ra đỉnh cao của thời đại. Cho nên cách so sánh ở đây cũng rất đặc biệt: Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời và Mác không dừng ở vị trí đỉnh cao nhân loại (qua những con người cụ thể, chẳng hạn, Đác-uyn) mà còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Bản thân Mác, do đó, trở thành đỉnh cao của mọi đỉnh cao, trở thành vĩ nhân của mọi vĩ nhân, trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Đây cũng chính là hiệu quả nghệ thuật mà biện pháp kết cấu tầng bậc kết hợp so sánh tạo ra. Cũng cần lưu ý là sự so sánh ở đây cũng mang tính chất một sự so sánh trùng điệp, tạo ra hiệu quả tăng cấp (thông qua hàng loạt từ ngữ so sánh liên tiếp, không ngừng).

Xem thêm:  Phân tích truyện ngắn Người trong bao của A.P.Sê-khốp

Cách so sánh ở đây trước hết được đặt từ cấp độ ngang bằng, tạo ra sự đối sánh song song nhằm dụng ý nhấn mạnh:

Giống như A đã… thì B (cũng) đã…

theo kiểu: Nếu A đã… thì B cũng…

Đặc biệt, sau vế 3 là một sự liệt kê không chỉ kết quả mà còn phân tích, chỉ ra ý nghĩa của kết quả ấy nữa, tạo ra một sự trùng điệp có hiệu quả nghệ thuật rất cao.

Tiếp theo sự so sánh tương đồng là so sánh vượt trội mà sự khẳng định được thể hiện ngay trong câu: “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Cách lập luận được thể hiện ở chỗ không chỉ nêu luận điểm mà còn ngay sau đó đưa ra một sự chứng minh đầy sức thuyết phục: “Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Tác giả cũng ngay sau đó chỉ ra ý nghĩa to lớn mà Mác phát hiện: đó là “một ánh sáng” để đối lập lại “bóng tối” mà “các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm”. Sự so sánh đó còn được nhấn mạnh nhiều lần ngay trong các đoạn tiếp theo.

Như vậy, với tư cách là một nhà nghiên cứu khoa học thì những phát kiến của Mác là vô giá và tên tuổi của ông đã được lưu vào sử sách. Nhưng nếu nhận thức về Mác như vậy thì chưa thấy hết sự vĩ đại của Mác, cũng như chưa thấy hết được sự đau xót, thương tiếc của Ăng-ghen đối với Các Mác. Cần phải hiểu thêm về Mác từ hai phương diện: con ngưòi của phát minh khám phá và con ngưòi của hoạt động thực tiễn. Giữa hai con người ấy, giữa hai phương diện ấy là một mối quan hệ biện chứng nhân quả hết sức chặt chẽ. Bỏi vì, như chính tác giả nhấn mạnh thì: “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. “Bởi lẽ trước hết Mác là một nhà cách mạng”.

Khía cạnh thứ hai trong con người Mác – khía cạnh con người hoạt động thực tiễn: “Bằng cách này hay cách khác, (ông) tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản và các thiết chế nhà nước do nó dựng lên, tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đem đến cho giai cấp ấy ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để tự giải phóng, đó thật sự là sứ mệnh thiết thân của cuộc đòi ông”. Bởi vì: “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”.

Bài điếu văn này đề cao hình ảnh của Mác nhưng tác giả không nói nhiều về cái chết (đây là khía cạnh độc đáo của bài điếu văn) mà nhấn mạnh ý nghĩa của sự sống, ý nghĩa của cuộc đời Mác và sự bất tử của những đóng góp sáng tạo mà Mác đã cống hiến cho nhân loại.

Đây cũng là điểm khác biệt giữa bài điếu văn này với những bài điếu văn thông thường khác mà chúng ta đã được biết. Cuộc đời của Các Mác với những cống hiến vĩ đại mà ông để lại cho nhân loại cũng mang tầm vóc nhân loại.

Kết thúc bài điếu văn là một tiếng khóc bày tỏ tình cảm tiếc thương dưới hình thức một lời cầu nguyện: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi!”.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TIẾNG MẸ ĐẺ – NGUỒN GIẢI PHÓNG CÁC DÂN TỘC BỊ ÁP BỨC, NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Theo Vanmauvietnam.com


Có thể bạn quan tâm

  • Bài giảng Chí Phèo soạn theo định hướng phát triển năng lực
  • Bài văn của học sinh giỏi : Chứng minh nhận định về truyện Chí Phèo Nam Cao
  • Bài văn mẫu của HSG về tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
  • Giáo án Bài ca ngất ngưởng soạn theo định hướng phát triển năng lực
  • Giáo án bài Chí Phèo soạn theo phương pháp mới
  • Phân tích nhân vật Liên trong truyện Hai đứa trẻ để chứng minh nhận định
  • Soạn bài lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác
  • Giáo án thao giảng Chữ người tử tù Nguyễn Tuân