Phân tích tác phẩm Bài Thơ Số 28 – Ngữ Văn 11

Phân tích tác phẩm Bài Thơ Số 28 – Ngữ Văn 11

Hướng dẫn

Đọc thêm

BÀI THƠ SỐ 28

(Trong tập Người làm vườn)

I. NHỮNG TRI THỨC CẦN BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861 – 1941) là nhà văn, nhà văn hoá lớn của Ấn Độ. Sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn, Ta-go đã sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, sớm nhận ra ách áp bức bất công mà thực dân Anh áp đặt lên quê hương và đồng bào ông. Vốn nổi tiếng thông minh, từ nhỏ, Ta-go đã thông thạo nhiều ngoại ngữ, nhờ đó, ông đã sớm tiếp thu được nhiều tinh hoa văn hoá không chỉ của đất nước Ấn Độ mà còn của nhiều nền văn hoá khác.

Ta-go là người hiền hậu, dễ xúc động và thích trầm tư suy ngẫm, vốn là một đặc điểm của các nhà hiền triết xứ sở này, đặc biệt trong thời kì từ 1902 đến 1907, khi mà gia đình ông gặp nhiều tổn thương mất mát.

Ta-go sớm tham gia các hoạt động xã hội vì độc lập tự do của Ấn Độ và sớm hoà nhập vói phong trào đấu tranh chung vì tiến bộ xã hội trong thòi kì giữa hai đại chiến.

Ta-go để lại 52 tập thơ, 12 bộ tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, 42 vở kịch, 63 tập tiểu luận triết học, chưa kể hàng trăm ca khúc và hàng nghìn bức hoạ đang được lưu giữ tại các bảo tàng mĩ thuật của Ấn Độ. Các con số đó cho thấy một sự nỗ lực sáng tạo phi thường của Ta-go. Ông cũng là người châu Á đầu tiên được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học với tập Thơ Dâng nổi tiếng.

2.Tri thức văn hoá

Ta-go sống trong thời đại mà các dân tộc thuộc địa thức tỉnh, đòi độc lập tự do và đòi quyền sống ; thời đại mà thế giới phải gồng mình gánh chịu hai cuộc đại chiến thế giới do các giới tư bản tài phiệt gây ra. Ta-go đã hoà mình trong nhịp sống hối hả đó của thời đại. Ông đặt chân đến nhiều nới với những đặc điểm chính trị xã hội rất khác biệt như Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản,… để từ đó có được cái nhìn khách quan về lịch sử mà không rới vào cái nhìn bi luỵ về cuộc đời và con người như một số nhà văn phương Tây khác cùng thời.

Sự kết hợp, giao hoà được các nền văn hoá khác nhau đã tạo ra một thiên tài Ta-go của đất nước Ấn Độ. Tính chất đa văn hoá trong vốn sống, trong sáng tạo văn học nghệ thuật cũng là nét nổi bật của các nhà văn thế kỉ XX.

3.Tri thức về thể loại

Bài thơ số 28 thuộc tập thơ Người làm vườn (gồm 85 bài, thường không có nhan đề mà chỉ đánh số thứ tự), được Ta-go sáng tác bằng tiếng Ben-gan và tự dịch sang tiếng Anh, xuất bản năm 1914. Chủ đề bao trùm của tập thơ là tình yêu, tiêu biểu cho giọng thơ giàu chất trữ tình và chất triết lí của Ta-go, vừa thể hiện tâm hồn Ấn Độ vừa bao quát tinh thần nhân loại.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang

Ta-go ca ngợi tình yêu như là một tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Trong quan niệm tình yêu của ông có cả chất liệu từ bi bác ái kết hợp trong đức tin về cái thánh thiện được gắn kết với những nét tích cực gắn liền với nhu cầu giải phóng con ngưòi, giải phóng cá nhân của truyền thống nhân văn phương Tây.

II- PHÀN TÍCH TÁC PHẨM

Đây là một bài thơ trữ tình, chủ thể trữ tình là nhà thơ mà câu chuyện được bộc lộ ra trong bài thơ là câu chuyện tình yêu rất riêng tư của chính chủ thể nhà thơ. Bài thơ ca ngợi sức mạnh của tình yêu vô biên thể hiện qua khát vọng khám phá mãnh liệt không cùng để tạo ra một sự gắn kết hoà họp, tạo ra một niềm tin bất tận vào chính sự khám phá ấy. ‘

1.Đặc điểm về nội dung

a.Một số khái niệm cần lưu ý

Hình ảnh “đôi mắt” với các sắc điệu của nó (buồn, băn khoăn,…) là một hình ảnh đặc trưng của nhiều nhà thơ song hình ảnh này ở thơ Ta-go rất đậm đặc và mang đặc trưng của cách nhìn tâm linh theo quan niệm của người Ấn Độ mà chính Ta-go đã nhấn mạnh: “Đôi mắt chúng ta liên kết nhau trong hoà điệu làm cho chúng ta hành động được thống nhất”..

b.Nhân vật

Trong bài thơ, xét về hình thức, có hai nhân vật: một là chủ thể trữ tình, trực tiếp bày tỏ, bộc lộ cảm xúc tình cảm của mình ; hai là khách thể tiếp nhận các cung bậc tình cảm yêu thương đó. Tuy nhiên, vì đây là bài thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc cho nên các nhân vật này đều dường như có sự phân thân: chủ thể trữ tình bộc lộ tình cảm với khách thể tiếp nhận song cũng chính là đang nói với chính mình, băn khoăn của khách thể tiếp nhận cũng được phân đôi tạo nên sự giằng xé tâm trạng. Từ đó, dẫn tới các suy tưởng trừu tượng hướng tới cái vô biên của tình người, tình đời mà mỗi khi đạt tới một cung bậc mới của tình người, tình đời ấy thì phạm vi của tình yêu lại được mở ra và một chân trời mới hiện lên.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

Bài thơ được cấu trúc theo kiểu tư duy hướng nội, hướng vào chiều sâu tâm tưởng, gợi mở cái nhìn về thế giới tâm linh. Từ đó, ý nghĩa của bài thơ cũng được tạo ra theo kết Cấu tầng bậc, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ nhận thức cảm tính, trực cảm tới nhận thức lí tính, khái quát cao.

a.Kết cấu bài thơ

Bài thơ toát lên âm hưởng của giọng điệu thơ tình qua cách thức giãi bày bộc lộ quan niệm về tình yêu mà ở đây có thể liên tưởng tới tình yêu lứa đôi.

Song bằng hình thức cấu trúc câu thơ theo lối giả định – phủ định – khẳng định, tác giả đã chỉ ra những nghịch lí của tình yêu. Từ đó tác giả trình bày một quan niệm tình yêu khác, rộng hơn nhiều với các quan niệm về tình yêu của các nhà thơ khác. Bài thơ diễn tả một nội dung triết lí về tình yêu, từ đó mử rộng ra ý nghĩa của cuộc đời, cho tình yêu nói chung, và rộng hơn là cho mọi tình cảm của con người. Âm hưởng trữ tình tha thiết tạo ra sự trầm lắng suy tư đầy chất triết lí vừa gợi mở cho độc giả niềm vui hướng tới tình yêu thiêng liêng, vừa tạo ra cảm giác kì diệu, bí ẩn của tình yêu.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

b.Ngôn ngữ nghệ thuật

Trong nguyên bản bằng tiếng Anh do chính Ta-go dịch thì bài thơ này cũng như nhiều bài thơ khác trong tập Người làm vườn đều có hình thức là thơ văn xuôi, một hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi. Đối với thơ văn xuôi, cần chú ý tới tứ thơ, nhịp điệu thơ và nhạc điệu, đặc biệt tính chất triết lí trên nền cảm xúc trữ tình.

Để phân tích được, trước hết cần phải tìm ra các từ “chìa khoá” ở cầu: “đời anh là một trái tim “, ta gặp một sự khẳng định có tính chất mở đường cho cách lập luận và tạo ra cảm xúc của bài thơ. Các cụm từ “Nếu trái tim anh” được lặp lại nhiều, trong nguyên tác bằng tiếng Anh do chính Ta-go tự dịch ra cụm từ này có nghĩa là “đời anh”. Từ đây ta có các từ khoá quan trọng: đời anh là trái tim – đời anh là tình yêu, đời anh = trái tim = tình yêu. Các từ khoá này cho phép hiểu tình yêu ở một khía cạnh cao hơn. Tình yêu ở đây là con người trong sự phát triển viên mãn của nó, cũng giống như trái tim được hiểu là biểu hiện cao nhất của cuộc sống.

Lưu ý: Các câu thơ được cấu trúc theo hình thức nghịch lí, đặc biệt qua các dòng thơ:

Em là nữ hoàng của vương quốc đó

Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu.

Hay các dòng thơ:

Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.

Giọng điệu nghịch lí này vốn xuất phát từ đầu bài thơ qua hình ảnh “Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh”. Nghịch lí này gắn liền với bản chất của cuộc sống, của tình yêu.

Khi phân tích, cần lưu ý tới hình thức cấu trúc câu thơ: tác giả thường đưa ra một giả định không thực sau đó tiến hành bước phủ định giả thiết ấy để hướng tới một sự khẳng định mới, tạo ra bất ngờ và hứng thú:

Nếu trái tim anh (- đời anh) = là = một phút giây lạc thú (thì)…

Nếu trái tim anh (- đòi anh) = chỉ là = khổ đau (thì)…

độc giả đang chờ đợi thì một sự bất ngờ đến ngay bởi hệ thống các từ khoá: đời anh là trái tim – đời anh là tình yêu, đời anh = trái tim – tình yêu, tức là độc giả được đưa đến, được đặt vào một sự khẳng định khác lớn hơn, cao cả hơn, không chỉ dừng ở mức độ so sánh bình thường. Cái bí ẩn của tình yêu xuất hiện cho dù em có là “nữ hoàng của vương quốc” tình yêu đó đi chăng nữa thì nữ hoàng ấy cũng chẳng dễ gì hiểu được vương quốc của mình. Cuộc đời không chỉ được đo đếm bằng niềm vui hay nỗi buồn cụ thể mà cuộc đời chính là tình yêu với biểu hiện muôn màu của nó, là sự hoà trộn của niềm vui và nỗi đau, bởi tình yêu ôm vào trong nó sự đa dạng của cuộc đời.

Xem thêm:  Giải thích câu tục ngữ: Tức nước vỡ bờ

Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu

Nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên.

Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu.

Các dòng thơ trên cho ta thấy rõ hơn chiều sâu của tình yêu, một tình cảm thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Tình yêu có cuộc sống riêng của nó, và nó tạo ra một quy luật riêng cho ứng xử thẩm mĩ của con người: “Người vói người sống để yêu nhau”.

Hai dòng thơ cuối cũng cho thấy một nghịch lí:

Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

Nhưng chẳng bao giờ êm biết trọn nó đâu.

Ở đây tình yêu – cuộc đời, tình yêu vừa cụ thể vừa trừu tượng vừa hữu hạn tưởng chừng như thể có một đường biên rõ ràng lại vừa vô hạn chẳng biết đâu là bến, đâu là bờ. Bởi thế, cho dù nó bao gồm cả niềm vui và nỗi đau nhưng chính niềm vui và nỗi đau ấy cũng vô cùng vô tận. Ở đây cần thiết phải lí giải nghịch lí này. Muốn thế phải trở về với từ khoá: đời anh = tình yêu, đời anh là hiện thân của tình yêu, anh là tình yêu. Đến với anh không chỉ đến bằng sự nhận thức thuần tuý lí tính, bằng phép định lượng định tính, bởi mỗi một con người là một tiểu vũ trụ tồn tại trong cái thế giới đại vũ trụ bao la. Mặt khác, đời anh là tình yêu cho nên muốn hiểu được đời anh tất yếu phải dùng tình yêu, chỉ có tình yêu đến với tình yêu, chỉ bằng tình yêu để khám phá và mở đường cho tình yêu thì mới được tình yêu đền đáp, mới hạnh phúc vì lúc đó mới hiểu được bản chất của tình yêu.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TÔI YÊU EM – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Theo Vanmauvietnam.com


Có thể bạn quan tâm

  • Giá trị hiện thực và nhân đạo trongHai đứa trẻ của Thạch Lam
  • Cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
  • Giáo án bài Chí Phèo soạn theo phương pháp mới
  • Bài giảng Chí Phèo soạn theo định hướng phát triển năng lực
  • Bài văn mẫu của HSG về tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
  • Bài văn mẫu HSG về Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
  • Phân tích nhân vật Liên trong truyện Hai đứa trẻ để chứng minh nhận định
  • Phân tích khổ thơ cuối bài Tràng giang của Huy Cận