Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Văn mẫu lớp 9

Nội dung bài viết

  • 1
    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 1
  • 2
    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 2
  • 3
    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 3
  • 4
    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 4
  • 5
    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 5


Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 1

Chùa Một Cột là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và toà đài xây giữa hồ vuông. Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía tây hoàng thành Thăng Long thời Lý, nay thuộc phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình, Hà Nội.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây dựng vào năm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Báo 1 (1049) đời Lý Thái Tông (Lý Phật Mã). Vua Lý Thái Tông 1028 – 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho các quan nghe, có người cho là điềm không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ toàn Phật sắc hồng, trong đặt tượng Phật vàng lấp lánh. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa niệm Phật cầu chúc cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là chùa Diên Hựu.

Theo văn bia dựng năm Cảnh Trị 3 do hoà thượng Lê Tất Đại ghi, chùa được dựng từ thời thuộc Đường: “Năm đầu niên hiệu Hàm Thông thời Đường… dựng một cột đá ở giữa hồ, trên cột xây một toà lầu ngọc trong đỏ đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cùng noi theo dấu cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Ọuan Âm mời lên trên lầu, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng…”.

Đời Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là “Giác Thế chung” (chuông thức tỉnh người đời) và một toà phương đình bằng đá xanh cao tám trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được, phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở, được gọi là ruộng Ọuy Điền và khoảng chuông cũng được gọi là chuông Quy Điền. Khi quân Minh bị bao vây ở Đông Ọuan, hết quân khí, Vương Thông đã cho phá quả chuông này đế đúc súng đạn.

Quy mô chùa Một Cột vào thế kỷ XII to lớn lộng lẫy hơn hiện nay rất nhiều. Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh chùa Long Đọi (Hà Nam), dựng năm 1121, tức mười sáu năm sau khi chùa mới hoàn thành, cung cấp cho ta hình ảnh chân thực nhất về ngôi chùa Một Cột thời Lý: “Lòng sùng kính đức Phật, dốc lòng một đạo nhân quả, hướng về vườn Tây cấm nổi danh xây ngôi chùa Diên Hựu”. Theo dấu vết chùa cũ cùng với ý mới của nhà vua (Lý Nhân Tông): Sáng “‘Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên cột đá, đình cột nở đoá sen nghìn cánh, trên bông sen đứng vững toà điện màu xanh, trong điện đặt pho tượng vàng nhân đức, vòng quanh hồ là hai dãy hành lang; lại đào ao Bích Trì mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước hai bên tả hữu, xây bảo tháp Lưu Ly”.

“Hàng tháng vào sớm ngày mồng một (ngày sóc), hằng năm vào dịp du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hương hoa, cầu cho ngôi báu lâu đài, bày chậu thau làm lễ tắm tượng Phật. Trang sức pho tượng tinh tế, biểu lộ tướng mạo của năm loại chúng sinh…”.

Qua văn bia miêu tả, rõ ràng Liên Hoa Đài thời Lý to hơn chùa ngày nay nhiều. Chùa thời Trần cũng không phải là ngôi chùa thời Lý nữa. Như sách Toàn thư đã ghi lại, năm 1249 “mùa xuân, tháng Giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Chùa đã qua nhiều đợt tu sửa. Đợt sửa chữa lớn vào năm Thiên ủng Chính Bình 18 (1249) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê, triều đình nhiều lần cho tu sửa, thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá. Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hoà tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tã hữu, gác chuông và sửa tam quan. Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giao xin đúc chuông mới. Năm 1864, tổng đốc TÔI1 Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen, chạm trổ thêm công phu tráng lệ.  Năm 1954, trước khi rút quân khỏi Hà Nội, quân Pháp đã đặt mìn và phá đổ chùa. Sau ngày tiếp quản thủ đô, Bộ Văn hóa đã cho tu sửa chùa Một Cột theo đúng kiểu mâu cũ để lại từ thời Nguyễn.

Tòa đài sen (Liên Hoa Đài), được quen gọi là chùa Một Cột có hình vuông mỗi chiều ba mét, mái cong dựng lên cột đá hình trụ cao bốn mét (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính là 1,2 mét. Trụ đá gồm hai khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá. Ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy tinh vi qua hình tượng bông sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiên trúc gỗ bằng hệ thống móng giằng; đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ, như đường lượn của cánh sen, thiết lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo. Cùng với ao hình vuông phía dưới có thể là biểu tượng cho đất (trời tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý niệm cao cả: Lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Khối kiến trúc gô đả được phù trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mã thanh lịch. Cảm giác thanh cao cùa kiến trúc như chia sẻ, hoà đồng với trời nước, và màu xanh của cây lá khiến con người giũ sạch ưu phiền, đạt tới sự trong sáng của tâm hồn như nhà sư Huyền Quang (1254 – 1334) dưới thời Trần đã viết:

Xem thêm:  Soạn văn bài: Ông lão đánh cá và con cá vàng

                     Vạn duyên bất nhiêu thành giã tục

                     Bán điềm vô ưu nhãn phóng  khoan

Nghĩa là:

                      Mọi duyên chẳng bợn, ngăn lòng tục,

                     Phiền nhiễu khuấy làng, rộng nhãn quang.

(Theo Đặng Việt Thủy, Hói đáp về những ngôi chùa nôi tiếng ở Việt Nam, 2009)


Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 2

Hà Nội có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, nổi tiếng. Một trong những danh thắng có một kiến trúc độc nhất vô nhị, đó là chùa Một Cột. Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam.

Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thăng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình – Hà Nội.

Được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm1049. Ngôi chùa này còn được gọi là Chùa Mật (gọi theo Hán- Việt là Nhất Trụ tháp), còn có tên gọi khác là “Diên Hựu tự” hay “Liên Hoa Đài”. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm1049, vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đánh trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.

Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ.- Năm 1105,vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay. Bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong, dựng trên cộtcao 4 m, đường kính 1,2m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên. Ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước là kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng nhữngviêngạch sành tráng men xanh.

Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840- 1850 và vào năm 1920. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được sửa chữa lại năm 1955 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng đảm nhiệm. Năm 1995, chùa có được trùng tu ngôi Tam bảo với tổng số tiền là 500 triệu đồng,năm 1997 trùng tu nhà Mẫu hơn 200 triệu đồng, còn chính điện chùa Diên Hựu thì được trùng tu từ năm 1954.

Chùa Một cột đã được Bộ Vǎn hoá xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28-4-1962. Chùa Một Cột có ý nghĩa tôn giáo, văn hoá to lớn. Đây cũng là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật. Hình ảnh của ngôi chùa này còn tìm thấy trên mặt sau của đồng xu 5000 đồng.

Chùa Một Cột từ lâu đã trở thành nét độc đáo của văn hóa Việt, ngôi chùa không lớn nhưng mang nét kiến trúc riêng. Chính sự độc đáo này đã thu hút rất nhiều lượng khách tham quan ở trong và ngoài nước. Mỗi người dân Việt Nam nên có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản vô giá của quốc gia này.


Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 3

Chùa một cột là một quần thể kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa đài giữa hồ, vốn có tên là chùa diên hựu và đài liên hoa. Đài này từ lâu quen gọi là chùa một cột. Chùa nằm ở phía tây thành thăng long, thuộc thôn ngọc thanh, ngọc hà, nay là địa điểm phía sau lăng bác.

Chùa được dựng trên một mô hình vuông, giữa hồ có một số cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt lên một tòa chùa ngói nhỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, vì thế chùa có tên là chùa nhất trụ hay chùa một cột. Chùa được xây dựng từ năm 1049, niên hiệu đời sùng hưng đại bảo vua thái tông nhà lí. Tục truyền khi ấy vua thái tông tuổi đã cao mà chưa có con trai nên thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm vua nằm chiêm bao thấy đức phật quan âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một bé trai đưa cho nhà vua. Sau đó quả nhiên nhà vua có con trai. Thấy ứng nghiệm, vua liền sai lập chùa để thờ phật quân âm. Khi chùa làm xong vua triệu tập toàn bộ các tăng ni phật tử ở kinh thành đứng chầu xung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm và lập thêm một ngôi chùa lớn bên cạnh để thờ chư phật gọi là chùa diên hựu.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Viết bài tập làm văn số 1 – Văn tự sự và miêu tả

Năm 1105, vua lí nhân tông cho sửa lại chùa, dựng nên một cây tháp bằng đá trắng trước chùa diên hựu gọi là tháp bạch tuynh. Tháp cao 13 trượng. Từ tháp vào chùa một cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mồng một, nhà vua cùng hoàng hậu, phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt cứ đến ngày8 tháng tư âm lịch hàng năm là ngày phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh để làm lễ tắm phật ngày hôm sau. Ngày này rất đông các tăng ni phật tử và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn ở kinh đô. Trong ngày này, tại chùa có lễ phóng sinh. Lễ phóng sinh bắt đầu ngay sau lễ tắm phật, nhà vua đứng trên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, sau đó đến các tăng ni và các thiện nam tín nữ đua nhau mỗi người thả một con, bóng chim bay rợp trời.

Sử cũ chép vào năm long phù thứ tám (1088), nhà vua xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là giác thế chung (chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa diên hựu. Lại xây một tòa phương đình bằng đá xanh cao tám trượng, trên nóc đình đóng những gióng sắt to để treo chuông. Nhưng chuông đúc xong đánh lại không kêu nên đành bỏ ngoài ruộng. Lâu ngày bị lãng quên, chuông thành tổ của rùa, vì thế chuông có tên quy điền.

Năm 1922 trường viễn đông bác cổ có sửa chữa lại chùa và giữ đúng theo kiến trúc cũ.


Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 4

Hà Nội nổi tiếng là nơi kết hợp các kiến trúc giữa sự cổ kính và hiện đại, những con phố nhỏ hẹp hay từng mảnh đất rong rêu, tất cà đều mang một nét đặc trưng của nó, đều là “cái hồn” của Hà Nội nơi đây. Nhưng có lẽ “cái hồn‘’ sâu đậm nhất trong lòng người Hà Thành chính là ngôi chùa mang cái kiến trúc độc nhất vô nhị, là niềm tự hào của đất nước – Chùa Một Cột.

Chùa Một Cột xưa nằm ở phía Tây hoàng thành Thăng Long thời Lý nay thuộc quận Ba Đình – lòng thủ đô Hà Nội. Một vẻ đẹp thanh bình nổi bật giữa chốn thành thị nhộn nhịp, có lẽ vì chính cái kiến trúc độc đáo nhưng thanh tịnh này mà Chùa Một Cột ngày càng được nhiều người biết đến.

Chùa thuộc trong quần thể kiến trúc gồm chùa và toà đài nằm giữa hồ được biết đến với cái tên  Diên Hựu tự hay Hoa Liên đài. Ban đầu, Diên Hựu tự chỉ bao gồm Chùa Một Cột tức một toà đài nhỏ được nâng lên bởi một cột đá với tượng Quan Âm được đặt bên trong.

Cột đá cao chừng 2 trượng, 8 cạnh hình bông sen, bề ngoài được khắc bài kinh Lăng Nghiêm, nhìn vào thì cứ tưởng cột là một khối hoàn chỉnh nhưng thật ra là do 2 khối liên kết với nhau tạo thành. Đầu trụ nâng một toà sen chạm hình vuông gọi là đài Liên Hoa. Đài có cấu trúc mái ngói, lợp bằng ngói ta, trên đỉnh có Lưỡng long chầu nguyệt.

 Xung quanh Chùa là một hồ nước vuông gọi là hồ Linh Chiểu, được trồng sen hồng xung quanh. Những đóa sen đang đứng thẳng một cách uy nghiêm nhưng đằm thắm dường như  góp phần tô điểm thêm cho ngôi chùa mang đầy vẻ trầm lắng này . Giữa hồ nước trong xanh, chùa Một Cột cứ như một bông sen nghìn cánh quý giá đang vươn lên dưới ánh mặt trời – một vẻ đẹp duyên dáng phảng phất nét thanh tịnh của chốn linh thiêng. Thật khiến người ta mê hoặc!

Chùa Một Cột được khởi xây vào mùa đông năm 1049 tức năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Lý Thái Tông. Nói chùa khiến ta nhớ đến toà sen của Phật Quan Âm là hoàn toàn đúng. Toàn bộ kiến trúc của chùa đều được dựa trên giấc mộng lành của vua Lý Thái Tông và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Truyền thuyết kể rằng vua Thái Tông tuổi đã cao mà chưa có con nên thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm vua nằm chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía Tây thành, tay bế một bé trai kháu khỉnh trao cho nhà vua. Sau đó quả nhiên nhà vua sinh con trai. Thấy ứng nghiệm, vua liền cho lập chùa để thờ Phật Bà Quan Âm. Khi chùa làm xong, vua triệu tập tất cả các tăng ni phật tứ ở kinh thành đứng chầu xung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm và dựng thêm một ngôi chùa lớn bên cạnh để thờ Phật gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc). Đến năm 1105, chùa được tu bổ hoàn toàn. Sau đó, vua Lý Thái Tông cho người sửa ngôi chùa và dựng thêm hai tháp báu.

Hai tháp báu này được xây bằng gạch nung đất trắng, một cạnh gạch có chạm rồng, bên ngoài phủ men trắng. quá trình tu bổ này đã được Binh bộ Thượng thư miêu tả tỉ mỉ: ‘’…Đào hồ thơm Linh Chiêu, giữa hồ trồi lên cột đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen dựng tòa điện màu xanh đặt pho tượng. Vòng quanh hồ là dẫy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên dều có cầu vồng để bắc đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu li” .Đoạn miêu tả trên cho ta thấy ngày xưa, chùa Một Cột có một kiến trúc rất phong phú và độc đáo hơn nhiều so với ngày nay.

Thực tế, chùa Một Cột đã được qua nhiều lần sửa chữa vào khoảng những năm 1840-1850 và năm 1922. Đài Liên Hoa hiện nay mà chúng ta thấy là do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng đảm nhiệm sửa chữa. Lần trùng tu lớn nhất hay có thể gọi là xây lại hoàn toàn là vào năm 1954, chùa Một Cột bị giết chết sau một tiếng nổ long trời lở đất dưới tay quân viễn chinh Pháp độc ác, trước khi chúng rút khỏi Hà Nội. Nhưng may thay, sau khi tiếp quản thủ đô, Bộ Văn Hoá Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiến hành xây dựng lại chùa Một Cột theo kiến trúc cũ. Đóa sen quý giá của dân tộc đã sống lại. Vào ngày 28/4/1962, chùa được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, nghệ thuật kiến trúc.

Xem thêm:  Bài dự thi Viết về mẹ của em

Là một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội, chùa Một Cột mang trong mình một ý nghĩa tôn giáo và văn hoá to lớn. Là cái ý nghĩa tâm linh mà những người đi trước gửi gắm cho con cháu đời sau. Hình ảnh ngôi chùa vẫn đứng vững cho đến ngày nay như đang nói rằng những người có tâm hồn thanh cao, bất khuất của người quân tử  là những bông sen cao quý, không hề bị ô uế trước vòng cám dỗ danh lợi, luôn giữ cho mình sự trong sạch giữa chốn bùn nhơ.

Chùa Một Cột quả là một công trình kiến trúc vĩ đại không chỉ đối với người Hà Thành mà còn với người dân trên toàn đất nước. Vẫn còn rất nhiều người cho rằng ngôi chùa bé như vậy, đặc biệt ở chỗ nào? Đúng thế, chùa Một Cột chẳng bao giờ gây hứng thú người khác với cái kích thước nhỏ bé kia nhưng cái tâm linh độc đáo, cái hồn của Hà Nội lại được ngôi chùa thể hiện một cách thật trọn vẹn, thật quý giá.


Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Một Cột – Bài số 5

Những năm về đây ngành du lịch của đất nước ta rất phát triển, đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng được cả du khách trong nước và nước ngoài đến thăm quan rất đông như Phong Nha Kẻ Bàng ở Quảng Bình, Vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh, Côn Sơn Kiếp Bạc ở Hải Dương, Chùa Một Cột ở Hà Nội, hang Sơn – Đoòng ở Quảng Bình, trong rất nhiều danh lam thắng cảnh của Việt Nam Chùa Một Cột là một danh lam thắng cảnh có kiến trúc độc nhất vô nhị, và là điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách.

Chùa Một Cột thuộc phố chùa Một Cột, Ba Đình, Hà Nội, ngôi chùa này còn có những tên gọi khác như ” Liên Hoa Đài”, “Diên Hựu Tự”, ”Chùa Mật”, ngôi Chùa được xây dựng vào năm 1049. Truyền Thuyết năm 1049 kể lại rằng Vua Lý Thái Tông có nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen và dắt Vua lên tòa, sáng hôm sau dậy trong buổi Chầu Vua có kể lại với các bày tôi của mình, sau đó được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , nhà sư cũng gợi ý thiết kế cho nhà vua, ngôi chùa được dựng giống như trong giấc mơ của vua Lê Thánh Tông, nhà vua cho dựng một cột sau đó làm tòa sen Phật Bà Quan Âm đặt lên côt và nhà vua cho các nhà sư đi vòng quanh tòa sen để tụng kinh cầu mong sự phù hộ của Phật Quan Âm chính vì thế mà lúc đó Chùa có tên là Chùa Diên Hựu, ngôi chùa có kết cấu được làm bằng gỗ.

Năm 6 năm xây dựng năm 1105 nhà vua Lý Thái Tông cho mở rộng kiến chúc ngồi chùa, xây thêm hồ Linh Chiểu. Ngày nay Chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá, bao gồm đài Liên Hoa, có cột đá chồng lên nhau thành một khối, tầng bên trên là những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên, Ngôi Chùa Một Cột có kiến trức vô cùng độc đáo, hình ảnh chiếc cột vươn lên khỏi mặt nước gợi đến hình ảnh những bông hoa sen vươn thẳng lên được bao bọc với hàng lan can với những viên gạch sách loáng.

Trải qua sự bào mòn của thời gian, thì Chùa Một Cột đã có những lần trùng tu, vào những năm 1840 – 1850 và năm 1920. Năm 1954 trùng tư chính điện chùa Diên Hựu, năm 1955 trùng tu sữa chữa đài Liên Hoa, năm 1995 trùng tu ngôi Tam Bảo, năm 1997 trùng tu nhà Mẫu.

Chùa Một Cột chính là biểu tượng của Hà nội ngàn năm văn hiến, là một kiến trúc một danh lam thắng cảnh đẹp, nổi tiếng có ý nghĩa về lịch sử và thời đại, ngày 28/4/1962 Chùa Một Cột được bộ văn hóa xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật.

Chùa Một Cột – danh lam thắng cảnh đẹp, mang nét kiến trúc riêng, đã từ lâu Chùa Một Cột đã trở thành nết độc đáo, phong phú của văn hóa Việt, mỗi người dân nên có ý thức giữ gìn, bảo vệ Chùa Một Cột bởi đây chính là tài sản vô giá của Quốc Gia, chính vì những nét riêng, những nét độc đáo là danh lam thắng cảnh này đã thu hút được rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

Chùa Một Cột từ lâu đã trở thành nét độc đáo của văn hóa Việt, ngôi chùa không lớn nhưng mang nét kiến trúc riêng. Chính sự độc đáo này đã thu hút rất nhiều lượng khách tham quan ở trong và ngoài nước. Mỗi người dân Việt Nam nên có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản vô giá của quốc gia này.

Từ khóa tìm kiếm: văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh, danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam, thuyết minh về một danh lam thắng cảnh đẹp, chùa một cột, danh lam thắng cảnh chùa một cột, tả danh lam thắng cảnh chùa một cột.

Nguyễn Tuyến tổng hợp

Có thể bạn quan tâm?

  • Thuyết minh về di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi – Văn mẫu lớp 9
  • Dàn ý Thuyết minh về cây kéo lớp 9
  • Thuyết minh về một cảnh quan của đất nước – Văn mẫu lớp 9
  • Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh – Văn mẫu lớp 9
  • Thuyết minh về di tích lịch sử – Văn mẫu lớp 9
  • Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Đà Lạt – Văn mẫu lớp 9
  • Thuyết minh về một cảnh đẹp – Văn mẫu lớp 9
  • Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân – Văn mẫu lớp 9