Tản mạn về Sài Gòn

Về chiếc khèn trong văn hóa Việt

Đọc khoảng: 5 phútChúng ta thường đặt câu hỏi về nguồn gốc của nhạc cụ mà được gọi là khèn bè. Có nhiều nhà khoa học cho rằng nhạc cụ nầy đến từ nước Lào. Nhưng cũng không ít người ngần ngại và hoài nghi. Đó là trường hợp của nhà nghiên cứu Pháp Noël Péri của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Đối với ông nầy, nếu người dân Việt không dùng nhạc cụ nầy như người Lào nhưng nhạc cụ mà được trông thấy thường ở người Mường, một dân tộc rất gần gũi với người Việt về văn hóa và tập quán và người Hmong, cũng giống như khèn bè của người Lào.

Hơn nữa nhạc khí nầy được thể hiện không những ở trên các trống và thạp đồng mà còn ở các vật dụng của văn hóa Đồng Sơn. Đó là trường hợp cái cán của một cái môi bằng đồng được trang trí với một nhân vật nam giới ngồi đang thổi khèn bè và được trưng bày hiện nay ở bảo tàng viện lịch sử ở Saïgon.

Chúng ta dẫn đến đến kết luận và khẳng định một cách quả quyết là nhạc khí nầy có từ thời đồ đồng (giữa 2000 năm và 200 năm trước công nguyên ở Đông Nam Á) và được sáng chế bởi người thuộc chủng Nam Á (Austroasiatic) trong đó có các dân tộc Lào, Hmong, Mường, Việt Nam và Mnong v.v… mà chúng ta thường gọi là đại tộc Bách Việt. Cũng không nên quên có một thời điểm nào trong quá khứ dân tộc nhánh Tai-Kadai (chi nhánh Tây Âu) và dân tộc Việt (chi nhánh Lạc Việt) cùng nhau hiệp sức trong việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán và chống cự lại quân Tần của Tần Thủy Hoàng. Theo bà khảo cứu Pháp Madeleine Colani thì các khèn bè nầy không bao giờ vượt qua dãy núi Hy Mã Lạp Sơn và thung lũng Bramahpoutre của Ấn Độ. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

Đó là trường hợp các khèn bè của dân tộc Dayak ở đảo Bornéo (Nam Dương) vì trước khi họ định cư trên đảo nầy, họ đã sống trước đó dọc theo bờ biển phía đông của đất Bách Việt. Dựa trên khèn bè của người thuộc chủng Nam Á, người Trung Hoa cũng sáng chế một nhạc cụ thường gọi là lusheng mà được nhắc đến trong kinh nhạc của Khổng Tử.

Theo nhà nghiên cứu Victor Goloubew, người Đông Sơn tức là tổ tiên của người Việt hiện nay cũng biết thổi khèn bầu.

Khèn bè được xuất hiện dưới nhiều hình dạng mà theo bà Madeleine Colani thi khèn bè của dân tộc Lào xem là óng chuốt và tao nhã nhất. Nói chung thì cây khèn bè thông thường có một cấu tạo ống theo số chẵn, làm bằng tre và ở mỗi cái ống có một lỗ nhỏ thường gọi là lỗ thổi và bên trong ống có một lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Các ống nầy được lắp ráp theo cặp với chiều dài giống nhau, theo thứ tự và giảm dần từ miệng của cái bầu khèn được cung cấp không khí bởi hơi thổi của người chơi khèn. Chiều dài của các ống xác định độ cao của nốt. Cây khèn càng dài thì âm điệu càng thấp. Số ống dùng để thổi không có cố định và còn có liên hệ đến truyến thống văn hóa của mỗi dân tộc. Như người Hmong ở các dãy núi phiá bắc Việtnam hay là người Mnong ở Tây Nguyên, thì trên cây khèn chỉ có thấy 6 ống mà thôi. Còn với người Thái ở vùng Mai Châu, số ống lên đến 14.

Khèn có 6 ống (hay Mbuot) của dân tộc Mnong ở Tây Nguyên

Còn khèn của người Lào thì số ống có thể biến đổi: hoặc 6 ống với chiều dài có thể lên đến 40 cm thì gọi là khène hot hoặc là 14 ống với khène jet hoặc là 16 ống với khène baat. Khèn nầy được trọng dụng nhiều nhất ở Lào. Để phát âm tiếng, nguời chơi khèn phải giữ giữa hai bàn tay nhạc cụ mà ở nơi đó có miệng khèn dùng để thổi và đưa không khí vào khèn, xem như là nơi để tụ không khí. Cùng lúc đó người thổi khèn phải bịt ở đầu các ống với các ngón tay khiến làm rung chuyển các lưỡi gà phù hợp qua sự hít vào hay thở ra của mình.

Khèn lào (16 ống)

Khèn thường có liên hệ mật thiết với các nghi lễ tôn giáo và các sự kiện quan trọng ( hội chợ, đám cưới, tang lễ vân vân …). Có thể thổi khèn một mình hay là với một nhóm người nhằm để kèm theo các điệu nhảy hay ca hát. Mỗi dân tộc có sự tích cá biệt về khèn. Tiếng khèn cũng làm cho thế giới con người đến gần với thế giới tâm linh. Đối với dân tộc Lào cũng như các dân tộc thiểu số ở Vietnam (Hmong, Thái vân vân…), cây khèn bè biểu tượng bản sắc văn hóa. Đối với dân tộc Hmong, có một cây khèn trong nhà là niềm hảnh diện được có một người đàn ông tài hoa và khí phách trong gia đình.

Trong ngạn ngữ của người Lào, muốn được xem là người Lào đích thực, thì phải biết thổi khèn, ăn cơm nếp với cá ươn (padèk) và ở nhà sàn.

Dù có một vai trò rất quan trọng như các cồng chiền Tây Nguyên (Việt Nam), cây khèn bè tiếp tục bị bỏ rơi theo ngày tháng bởi giới trẻ vì muốn thông thạo trong việc thổi khèn bè thì không những cần có sự kiên nhẫn mà cần có khiếu về âm nhạc. Bởi vậy khèn bè không phải ai cũng thổi được mà cần phải biết diễn xuất một số giai điệu căn bản và biết nhảy hòa nhịp theo tiếng khèn. Một số giai điệu có thể gợi lên các khía cạnh của thiên nhiên và cuộc sống. Có hơn 360 giai điệu dành cho tang lễ. Chính vì thế cây khèn bè có một vị trí quan trọng trong đời sống dân gian và tinh thần của các dân tộc thiểu số.

Tài liệu tham khảo

Essai d’ethnographique comparée. Madeleine Colani, BEFEO, 1936,Vol 36, N°1, pp. 214-216

Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam.

Rapport sur une mission officielle d’étude musicale en Indochine. Péri Noël, G. Knosp. BEFO. 1912. Tome 12, pp 18-2

Pour continuer d’entendre le son du khèn des Hmongs. Hoàng Hoa. Courrier du Vietnam, 24.03.2012

Back to top button